Ninh Bình vinh dự có thêm 5 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia

Cập nhật: 22/09/2026
Ninh Bình tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những địa phương giàu có về di sản văn hóa khi vinh dự có thêm 5 hiện vật, nhóm hiện vật được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia trong đợt công nhận lần thứ 14. Đây là những di sản có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học và nghệ thuật, góp phần làm phong phú thêm kho tàng di sản quý giá của vùng đất Cố đô.

Theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ, Ninh Bình có thêm 5 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận là Bảo vật quốc gia, gồm: Bia đá chùa Nghĩa Xá; Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương; Bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán động Liên Hoa, chùa Phong Phú; Sách đồng “Khâm Ban” của Lê Thánh Tông và 03 bia đá chùa Keo Hành Thiện thời Lê Trung Hưng.

Trong số các bảo vật mới được công nhận, Bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán động Liên Hoa, chùa Phong Phú là một di sản đặc biệt bởi các hình tượng La Hán được khắc trực tiếp trên vách đá tự nhiên trong động. Bộ tranh gồm 18 vị La Hán với những tư thế, thần thái và đường nét tạo hình khác nhau, mang giá trị nổi bật về lịch sử, mỹ thuật và Phật giáo. Được xác định có niên đại thời Trần, bộ tranh là nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu nghệ thuật tạo hình và đời sống tín ngưỡng của người Việt trong lịch sử.

Bia đá chùa Nghĩa Xá, niên đại: Thiên Phù Duệ Vũ 3 (1122), hiện lưu giữ tại chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự), xã Xuân Trường

Bia đá chùa Nghĩa Xá là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc tiêu biểu cho phong cách mỹ thuật Phật giáo thời Lý thế kỷ XII và giai đoạn thời Lê trung hưng thế kỷ  XVI, giai đoạn vàng son trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Văn bia chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự) do Lục Thượng Thái sư Lý Tường Đĩnh thời Lý soạn và được khắc lại vào thời Lê trung hưng cuối thế kỷ XVI. Nội dung bài văn bia hàm chứa giá trị văn học sâu sắc với những nội dung mang ý nghĩa triết lý Phật giáo, góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu văn học thời Lý - Trần.

Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương, niên đại: Đại Trị năm thứ 7 (1364), hiện lưu giữ tại chùa Thượng Nương, thôn Tam Tứ, xã Liêm Hà

Bàn thờ Phật bằng đá được tạo tác gắn với lịch sử ngôi chùa Thượng Nương được xây dựng từ thời Trần. Bàn thờ được ghép từ nhiều phiến đá, tạo thành khối hộp, đề tài trang trí phong phú với nhiều chi tiết độc lạ. Đây là bàn thờ đá cổ có niên đại tuyệt đối sớm nhất được phát hiện trên cả nước được khắc vào năm Giáp Thìn, niên hiệu Đại Trị năm thứ 7 (1364) đời vua Trần Dụ Tông. Bàn thờ đá được trang trí khá đa dạng các hoa văn, họa tiết đặc sắc, trong đó có một số hoa văn đẹp, lạ mà chưa thấy xuất hiện ở các bệ đá cùng thời. Nội dung văn tự cùng với đồ án trang trí liên quan mật thiết đến tư tưởng Phật giáo là di sản tư liệu quý vào loại bậc nhất của các bệ đá đã được phát hiện ở Ninh Bình và trên toàn quốc.

Sách đồng Khâm Ban của Lê Thánh Tông, niên đại: Thời Lê Sơ hiện lưu giữ tại đình Cầu Không, xã Bắc Lý

Sách “Khâm ban đồng bài” có 2 tờ, 4 trang bằng chất liệu đồng đỏ có kích thước bằng nhau. Trên cả 4 trang của sách đồng được khắc các dòng chữ Hán đẹp và sắc nét, với tổng cộng 528 chữ. Sách đồng chứa đựng một nguồn sử liệu vô cùng quý giá, cung cấp thêm tư liệu về sự kiện vua Lê Thánh Tông đích thân cầm quân đi chinh phạt Chiêm Thành, mở mang bờ cõi về phía Nam, cũng như những lần trừng phạt Champa từ thời Tiền Lê (do Hoàng đế Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy), sau đó là thời Lý (nhiều lần đích thân vua Lý và Thái úy Lý Thường Kiệt chỉ huy đều bằng đường biển), vua Lê Thánh Tông cũng chỉ huy đại quân đi bằng đường biển vào đánh Chiêm Thành. Điều đó cho ta thấy người Việt có truyền thống thủy chiến, hải quân mạnh.

03 bia đá chùa Keo Hành Thiện thời Lê Trung hưng, niên đại: Hoằng Định 13 (1613), Cảnh Trị 9 (1671) và Chính Hòa 25 (1704), hiện lưu giữ tại chùa Keo Hành Thiện (Thần Quang tự), xã Xuân Hồng

Ba bia đá tại chùa Keo Hành Thiện có tên là: “Tu tạo Thần Quang tự bi ký” (1613), “Thần Quang tự Đại pháp sư bi - Nam mô a di đà phật” (1671), “Hưng chú Thánh tượng Đại pháp sư bi ký - Nam mô a di đà phật” (1704). Ba bia đá đều được tạo tác với hình dáng vững chãi, bố cục, hình khối cân xứng hài hòa, có kích thước lớn, đề tài trang trí phong phú với các hình tượng: rồng, tiên nữ, hoa sen, mây lửa… thể hiện sự sáng tạo và kỹ thuật chạm khắc đá điêu luyện bậc nhất vào thế kỷ XVII - XVIII mà ít có bia đá thời Lê trung hưng nào trên cả nước có được. Trong giai đoạn này, mỹ thuật Việt Nam thiên về tính trang trí, biểu tượng, bắt nguồn từ tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” (Phật, Nho, Đạo) đương thời - thời kỳ phục hưng của văn hóa dân tộc. Trong đó Phật giáo hòa quyện Nho giáo, Đạo giáo, thể hiện sự gần gũi, đoàn kết và thống nhất cao, gắn bó với đời sống nhân dân, hay nói cách khác đó là khuynh hướng nghệ thuật dân gian kết hợp với tôn giáo.

Việc có thêm 5 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận trong đợt lần thứ 14 nâng tổng số Bảo vật quốc gia của Ninh Bình lên 22 hiện vật, nhóm hiện vật. Mỗi bảo vật là một “mảnh ghép” quan trọng trong bức tranh di sản của vùng đất Cố đô, phản ánh những giá trị lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và tín ngưỡng được hình thành, bồi đắp qua nhiều thế kỷ.

Không chỉ có giá trị trong nghiên cứu và bảo tồn, hệ thống Bảo vật quốc gia còn là nguồn tài nguyên quý giá để Ninh Bình phát huy giá trị di sản gắn với phát triển du lịch bền vững. Từ những hiện vật, câu chuyện lịch sử và giá trị văn hóa được lưu giữ, du khách có thêm cơ hội khám phá một Ninh Bình không chỉ nổi tiếng bởi cảnh quan thiên nhiên mà còn bởi chiều sâu của một vùng đất giàu truyền thống lịch sử và văn hóa.

Việc các hiện vật, nhóm hiện vật tiếp tục được ghi danh là Bảo vật quốc gia một lần nữa khẳng định giá trị nổi bật và sức sống bền vững của di sản Ninh Bình, đồng thời đặt ra yêu cầu trách nhiệm trong công tác bảo vệ, gìn giữ và phát huy giá trị di sản. Đây cũng là cơ sở quan trọng để tăng cường quảng bá hình ảnh Ninh Bình – vùng đất “Tuyệt sắc miền Cố đô”, điểm đến hội tụ những giá trị đặc sắc của thiên nhiên, lịch sử, văn hóa và con người Việt Nam.

Nguồn: Phạm Giang- XTDL